Bác Hồ và những câu chuyện về câu đối
KTNT – Thuở nhỏ, khi còn theo học chữ Hán với cụ đồ cử nhân Vương Thúc Quý, trong một lần thầy sai rót dầu vào đĩa đèn, cậu học trò Nguyễn Sinh Cung (tên của Bác lúc đó) đã sơ ý để dầu dây ra cả đèn. Thầy liền lấy ngay việc đó ra cho cả lớp một vế đối:
Thắp đèn lên, dầu vương ra đế (vương và đế ở đây đều có hai nghĩa, vương là dây ra, cũng có nghĩa là vua; đế là chiếc đèn, còn có nghĩa là hoàng đế).
Trong lúc các trò còn đang lúng túng, chưa ai đối được thì trò Cung đã đứng dậy xin phép thầy được đối. Vế đối sau là: Cưỡi ngựa dong, thẳng tấn lên đường (tấn và đường ở đây cũng có hai nghĩa, tấn là tiến, cũng có nghĩa là nhà Tấn; đường là đường đi, còn có nghĩa là nhà Đường).
Cụ cử Vương Thúc Quý rất thán phục vế đối của trò Cung, cho là chỉnh và rất có khẩu khí.
****
Sau nhiều năm bôn ba ở hải ngoại, Bác trở về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng. Để giữ bí mật trước sự lùng sục gắt gao của bọn mật thám và bè lũ tay sai, nơi Bác ở được bố trí tại một địa điểm xa người qua lại, nằm sâu giữa vùng rừng núi trùng điệp, tiếp giáp với biên giới Việt – Trung. Điều kiện ăn uống sinh hoạt hàng ngày rất thiếu thốn, để có rau xanh, Bác tự bứng đem về trồng trước nhà được một bãi khoai môn. Nhân việc này, Bác có ra cho Thượng tướng Phùng Thế Tài (lúc đó còn làm cận vệ cho Bác) một vế đố vui: Trồng môn trước cửu (môn có nghĩa là cây khoai môn, cũng có nghĩa là cửa). Thượng tướng Phùng Thế Tài đã đối lại là: Bắt ốc sau nhà (ốc có nghĩa là con ốc, cũng có nghĩa là nhà). Bác cười vui vẻ: “Chú đối thế là được”. Nhân đó, Bác nói về cái hay của việc làm câu đối: “Đó là dịp để rèn luyện sự nhanh trí và óc thông minh vốn là một trong những điều kiện đòi hỏi phải có ở một người làm công tác ngoại giao…”.
Lần khác, vào một đêm trăng sáng, bên dòng suối ở vùng núi Cao Bằng vào thời điểm Bác đang thai nghén kế hoạch tổng khởi nghĩa cùng một số cán bộ lãnh đạo cấp cao khác, nhân lúc giải lao, Bác ra một vế đối: Nguyệt chiếu khê tâm, tâm chiếu nguyệt. Có người đối lại: Hoa sinh thạch diện, diện sinh hoa (Hoa nở trên mặt đá, mặt nở hoa). Câu đối lại không được chỉnh, Bác cười lắc đầu nói: “Thế là người mặt rỗ à?…”.
Lại một chuyện khác, thời gian còn hoạt động ở Trung Quốc, một lần Bác được mời đến dự tiệc do Chủ nhiệm Bộ Chính trị chiến khu IV là Hầu Chí Minh chiêu đãi. Nguyễn Hải Thần (cũng là khách mời hôm đó) đã ra một vế đối: Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh (Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, hai vị đồng chí, chí đều sáng tỏ). Trong khi chủ khách, tất cả những người có mặt trong bữa tiệc hôm đó còn đang suy nghĩ thì Bác thong thả đứng dậy đọc luôn: Nhĩ cách mạng, ngã cách mạng, đại gia cách mạng, mạng tất cách (Anh làm cách mạng, tôi làm cách mạng, ai nấy đều làm cách mạng, cách mạng tất sẽ thành công). Bác vừa dứt lời đã vang dậy tiếng vỗ tay hoan hô của những người có mặt. Còn Hầu Chí Minh và Nguyễn Hải Thần khỏi phải nói, hai người đã bày tỏ lòng khâm phục và ngưỡng mộ đối với Bác như thế nào.
Bình luận về bài viết
Bác Hồ và những câu chuyện về câu đối
Chưa có bình luận nào.
Gửi bình luận của bạn
Bình luận ngay